Tại sao việc nhân bản Thung lũng Silicon là không thể

Bài viết được dịch từ Technology Review

Lời bàn của Vinacode:

Người ta nói rằng sự hình thành của Thung lũng Silicon thì gồm 3 yếu tố: thiên thời, địa lợi nhân hòa. (Bạn đọc thêm bài này để biết thêm.)

Các cột mốc thời gian để hình thành Thung lũng Silicon như ngày hôm nay, bắt đầu từ cuộc đổ xô đến California tìm vàng vào năm 1849.

Các cột mốc thời gian để hình thành Thung lũng Silicon như ngày hôm nay, bắt đầu từ cuộc đổ xô đến California tìm vàng vào năm 1849.

  • Thiên thời: là bắt đầu từ cuộc đổ xô đến California tìm vàng năm 1849 đã tạo nên dân cư đông đúc nơi đây, tiếp đến là sự hình thành nên trường đại học Stanford (1891), rồi sau đó là có sự phát minh ra transitor. Và ông hiệu trưởng trường đại học Stanford vì lý do thiếu tài chính nên đã nhượng khu vực đất trống xung quanh trường cho các doanh nghiệp lập các trung tâm nghiên cứu. Sự hợp tác này khiến đại học Stanford có tiền trang trải chi phí, và sinh viên ra trường không phải đi xa để kiếm việc làm (và điều này cũng vô tình tạo ra một hệ sinh thái công nghệ tuyệt vời).
  • Địa lợi: khu vực California có biển, có núi bao quanh. Thiên nhiên tuyệt vời đã tạo bầu không khí cởi mở sáng tạo. Và diện tích Thung lũng Silicon có thể mở rộng rất thoải mái.
  • Nhân hòa: có rất nhiều tài năng xuất hiện ở thời điểm 1957, đặc biệt là bộ “8 kẻ phản bội” (bạn nhìn thấy trong hình phía dưới), đặc biệt là có Gordon Moore và Robert Noyce là nhà sáng lập ra Intel. Còn 6 người kia cũng đã tạo ra rất nhiều doanh nghiệp và làm chủ các quỹ đầu tư để cấp vốn hình thành rất nhiều công ty nổi tiếng sau này.

Hôm nay chúng ta sẽ đọc một bài viết nói về yếu tố quan trọng nhất (là con người) đã góp phần hình thành Thung lũng Silicon như ngày nay. Và trước khi bạn đi vào bài viết thì mình xin trích một câu nói của Giáo sư Jay Schalin rằng:

“Sự biến đổi của Thung lũng Silicon trở thành một thánh địa Mecca của công nghệ cao thì xảy ra phần nhiều là do các sự kiện ngẫu nhiên hơn là được thiết kế, và đó là một khoảng thời gian rất dài.”

Bộ 8 kinh điển: nhóm 8 người làm việc tại Fairchild Semiconductor, vào năm 1960 tại San Jose, California, đã sản xuất ra mạch tích hợp đầu tiên từ silicon. Trong đó hai người Gordon Moore và Robert Noyce, sau đó đã sáng lập ra gã khổng lồ Intel.Bộ 8 “kinh điển”: nhóm 8 người làm việc tại Fairchild Semiconductor, vào năm 1960 tại San Jose, California, đã sản xuất ra mạch tích hợp đầu tiên từ silicon. Trong đó hai người Gordon Moore và Robert Noyce, sau đó đã sáng lập ra gã khổng lồ Intel.


Trong suốt 50 năm qua, các chuyên gia đã cố gắng để tìm ra đâu là nguyên nhân làm cho Thung lũng Silicon thành công vượt trội. Câu trả lời đó là con người.

Vào năm 1960, Thung lũng Silicon đã nhận được sự chú ý của thế giới như là một trung tâm công nghệ sôi động. Nó đã sản sinh ra ngành công nghiệp vi sóng điện tử và thiết lập một khuôn mẫu cho mối quan hệ giữa học thuật và công nghiệp (giữa trường đại học Stanford và các công ty công nghiệp). Tổng thống Pháp lúc đó là Charles de Gaulle đã có một cuộc viếng thăm và lấy làm ngạc nhiên khi thấy các công viên nghiên cứu công nghệ lại được đặt ở giữa các nông trại và vườn cây ăn trái tại miền nam của San Francisco.

Đại học Stanford là trái tim của Thung lũng Silicon, đã khai sinh ra các công ty dẫn đầu như là Hewlett-Packard, Varian Associates, Watkins-Johnson, và Applied Technologies. Những công ty này đã được đẩy tới những giới hạn của công nghệ. Bởi vậy nên đã có những điều không bình thường xảy ra ở đây — trong sự đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.

Ngay sau đó, những vùng khác đã cố gắng sao chép điều thần kỳ trên. Nỗ lực nghiêm túc đầu tiên có thể kể tới là việc cố gắng tái tạo lại một bản sao của Thung lũng Silicon được thai nghén bởi một hiệp hội các công ty công nghệ cao ở New Jersey vào giữa những năm 1960. Họ đã tuyển mộ Frederick Terman, người đã thôi việc tại đại học Stanford sau khi đã phục vụ với chức danh hiệu trưởng, giáo sư và là trưởng khoa kỹ thuật.

Terman, đôi khi được người ta gọi là “cha đẻ của Thung lũng Silicon,” người đã chuyển trường đào tạo kỹ sư còn non kinh nghiệm là Stanford vào một bộ máy của đổi mới và sáng tạo. Bằng việc khuyến khích các nhà khoa khoa học và kỹ sư làm việc cùng với nhau, liên kết họ với các doanh nghiệp địa phương, và tập trung vào việc nghiên cứu những thứ cần thiết của ngành công nghiệp, ông đã tạo ra một văn hóa cộng tác và trao đổi thông tin mà chính đó đã trở thành đặc trưng của khu vực này.

Đó là hỗn hợp mà New Jersey đã muốn tạo một bản sao. New Jersey lúc đó đã là một trung tâm dẫn đầu về công nghệ cao — chứa các phòng thí nghiệm của 725 công ty, bao gồm các tên tuổi lớn như RCA, Merck, và nhà phát minh ra transitor là Bell Labs. Lực lượng làm khoa học và kỹ sư của nó đã lên đến 50,000 người. Nhưng bởi vì không có trường đại học về công nghệ nào trung vùng này, các công ty của nó phải tuyển dụng từ bên ngoài, vì vậy họ đã lo sợ sẽ đánh mất những tài năng và những công nghệ tốt nhất của họ tới những vùng khác. (Thậm chí mặc dù đại học Princeton ở gần đó, thì năng lực của nó nói chung không đáp ứng được yêu cầu của ngành công nghiệp nơi đây.)

Các nhà lãnh đạo của chính phủ và các doanh nghiệp tại New Jersey, dẫn đầu bởi Bell Labs, đã quyết định rằng giải pháp là xây dựng một trường đại học giống như Stanford. Và đó là điều mà họ đã hy vọng Terman có thể làm.

Các học viên tại Y Combinator

Valley 2.0: Các doanh nhân tương lai đã tập hợp nhau lại vào năm 2011 tại trường đại học Stanford cho quỹ khởi nghiệp Y Combinator.

Terman đã phác thảo ra một kế hoạch, nhưng ông ta không thể triển khai được, phần lớn là bởi vì ngành công nghiệp ở đây không có sự cộng tác. Lịch sử này đã được ghi lại bởi Stuart W. Leslie và Robert H. Kargon trong một tài liệu được xuất bản năm 1996 có tên là “Đem bán Thung lũng Silicon”. Họ nói về công ty RCA đã không đặt bút ký hợp tác với Bell Labs như thế nào, công ty Esso đã không muốn chia sẻ những nhà nghiên cứu giỏi nhất của họ với một trường đại học ra làm sao, cũng như công ty Merck và những hãng dược phẩm khác đã muốn giữ ngân sách nghiên cứu của họ cho riêng mình. Mặc dù có những nhu cầu chung, các công ty đã không muốn làm việc cùng với các đối thủ cạnh tranh của mình.

Terman sau đó cũng thử làm một lần nữa ở thành phố Dallas (thuộc tiểu bang Texas, Hoa Kỳ). Nhưng ông ta cũng lại thất bại vì những lý do tương tự.

Vào năm 1990, một vị giáo sư nổi tiếng là Michael Porter thuộc trường đại học Harvard đã đề xuất một phương thức mới trong việc tạo ra các trung tâm sáng tạo vùng — thường bao quanh một trường đại học có chức năng nghiên cứu đã tồn tại trước đó. Ông ta đã quan sát thấy rằng chính việc tập trung về địa lý của các công ty có liên kết với nhau và các nhà cung cấp được chuyên môn hóa đã đem lại những hiệu suất chắc chắn trong các ngành công nghiệp và những lợi thế về giá thành sản xuất. Porter cho rằng việc mang những thành phần này lại với nhau vào thành một cụm gần nhau về địa lý có thể kích thích những đột phá sáng tạo của con người.

Porter và rất nhiều cố vấn của mình đã làm theo phương thức mà ông đã đề xuất đó, được tiến hành thành những cụm theo mô hình top-down tới nhiều chính phủ trên khắp thế giới. Công thức đó thì luôn luôn giống nhau: lựa chọn một ngành công nghiệp “nóng”, xây dựng một công viên khoa học kế bên một trường đại học công nghệ, trợ cấp các điều kiện và khích lệ để lựa chọn những ngành công nghiệp được đặt tại đây, và tạo ra một tổ hợp các quỹ đầu tư mạo hiểm để cấp vốn cho các dự án.

Đáng buồn thay, điều thần kỳ vẫn chưa bao giờ xảy ra — bất cứ đâu. Hàng trăm nhóm vùng miền trên khắp thế giới đã tiêu tốn hàng chục tỉ đô-la để cố gắng xây dựng những phiên bản Thung lũng Silicon của họ. Nhưng tôi vẫn chưa hề thấy một câu chuyện thành công nào.

Cái mà cả Porter và Terman đã thất bại trong việc nhận ra rằng không phải là giới học thuật, công nghiệp, hoặc thậm chí là quỹ đầu tư của chính phủ Mỹ đổ vào các hoạt động nghiên cứu của quân đội về không gian và điện tử đã tạo ra Thung lũng Silicon: mà chính con người và các mối quan hệ mà Terman đã cẩn thận nuôi dưỡng xung quanh trường đại học Stanford và các nhà lãnh đạo công nghiệp mới là yếu tố quan trọng nhất.

Giáo sư AnnaLee Saxenian thuộc trường đại học Berkeley của California đã hiểu rõ tầm quan trọng của con người, văn hóa, và các kết nối. Trong cuốn sách xuất bản năm 1994 của bà có tên “Lợi thế vùng miền: văn hóa và sự cạnh tranh trong Thung lũng Silicon” đã so sánh cuộc cách mạng của Thung lũng Silicon cùng với khu vực Route 128 — vành đai công nghiệp bao quanh thành phố Boston, Hoa Kỳ — để giải thích lý do tại sao không có vùng nào có khả năng tái tạo câu chuyện thành công của California.

Saxenian cũng ghi chú rằng cho tới những năm 1970 thì Boston vẫn đang vượt trước Thung lũng Silicon trong các hoạt động startup và các đầu tư vốn mạo hiểm. Nó có một sự thuận lợi rất lớn bởi vì vị trí địa lý của Boston thì gần các trung tâm công nghiệp tại bờ biển phía Đông nước Mỹ. Đến những năm 1980, thì Thung lũng Silicon và Route 128 có sự phát triển ngang nhau và có những điểm tương đồng: một sự pha trộn giữa các hãng công nghệ lớn và nhỏ, có các đại học hàng đầu thế giới, các quỹ đầu tư mạo hiểm, và các quỹ của quân đội rót tiền vào. Và sau đó Thung lũng Silicon vượt lên phía trước và bỏ lại Route 128 ở lại phía sau trong cát bụi.

Những lý do ở đây, chính ở cái gốc của họ, là văn hóa. Với tỷ lệ nhảy việc rất cao tại Thung lũng Silicon và sự hình thành nên nhiều công ty mới, mạng lưới các chuyên gia của nó được hình thành và việc trao đổi thông tin rất dễ dàng, đó là những yếu tố tạo ra những thuận lợi. Các công ty trong Thung lũng Silicon đã hiểu rằng chính sự cộng tác và cạnh tranh cùng lúc sẽ dẫn đến thành công — một ý tưởng thậm chí đã phản ánh trong những thỏa thuận loại trừ việc cạnh tranh trong những quy tắc không bình thường tại California. Hệ sinh thái này đã hỗ trợ việc trải nghiệm, chấp nhận rủi ro, và chia sẻ các bài học thành công cũng như thất bại. Hay nói cách khác, Thung lũng Silicon là một hệ thống mở — một mạng xã hội khổng lồ trong thế giới thực mà đã tồn tại rất lâu trước khi có mạng xã hội ảo Facebook.

Cũng phải thừa nhận một điều rằng Thung lũng Silicon có thời tiết thật tuyệt vời, nó được bao quanh bởi những ngọn núi và đại dương, và có vô số đường mòn để đi bộ trong công viên của bang. Những điều này giúp nuôi dưỡng một văn hóa lạc quan và cởi mở.

Khu vực căng-tin của các công ty tại Thung lũng Silicon trông giống như trụ sở Liên Hợp Quốc vì có rất nhiều nhân viên đến từ các nền văn hóa khác nhau: Âu, Á, Phi, Mỹ La Tinh...Khu vực căng-tin của các công ty tại Thung lũng Silicon trông giống như trụ sở Liên Hợp Quốc vì có rất nhiều nhân viên đến từ các nền văn hóa khác nhau: Âu, Á, Phi, Mỹ La Tinh…

Chú ý rằng từ 1995 đến 2005, 52.4% các công ty startup về công nghệ tại Thung lũng Silicon có một hoặc nhiều người được sinh ra bên ngoài nước Mỹ làm founder (sáng lập). Tỷ lệ này là gấp đôi so với tỷ lệ của toàn nước Mỹ. Những người nhập cư giống như tôi đến Thung lũng Silicon và nhận thấy rất dễ dàng để thích nghi và hòa nhập. Chúng tôi có khả năng học các quy tắc về việc làm, tạo ra các mạng lưới của mình, và tham gia sáng tạo một cách bình đẳng. Vào những ngày này, khuôn viên của các công ty như Google thì trông giống như là Liên Hợp Quốc vậy. Các quán cafe của họ không những chỉ phục vụ bánh hot dog theo văn hóa Mỹ, mà họ cũng phục vụ các món ăn truyền thống của người Trung Hoa và Mexico, cũng như các món cà-ri từ cả hai miền bắc và nam của Ấn Độ nữa.

Đây là sự đa dạng — một dạng của tự do thực sự — trong sự thịnh vượng và sáng tạo. Việc hiểu được thị trường toàn cầu mà những người nhập cư mang tới cùng với họ, kiến thức mà họ có trong những môi trường khác, và những mối liên kết mà họ cung cấp tới những quốc gia quê hương họ đã mang lại cho Thung lũng Silicon một lợi thế cạnh tranh không thể bị đánh bại, và nó đã phát triển từ việc tạo ra các radio và con chip máy tính cho đến tạo ra các bộ máy tìm kiếm, mạng xã hội, các thiết bị y tế, và công nghệ năng lượng sạch.

Tuy nhiên, Thung lũng Silicon có chế độ đãi ngộ nhân tài còn xa mới vươn tới độ hoàn hảo. Một số những sai lầm đã xé nát kết cấu rất vững chắc mà đã tạo ra tính độc nhất của nó. Phụ nữ và những cộng đồng thiểu số như người da đen và người Hispanics (gốc Tây Ban Nha & Bồ Đào Nha) thì phần lớn vắng mặt trong hàng ngũ của các nhà sáng lập và trong ban lãnh đạo của các công ty. Các quỹ đầu tư mạo hiểm thường tập trung để rót phần lớn vốn vào các công ty startup mong thu được kết quả trong một thời gian ngắn — điều này dẫn đến ưu thế của các ứng dụng truyền thông xã hội và chia sẻ hình ảnh. Giá cả địa ốc ở đây cũng quá cao đến nỗi phần lớn người Mỹ sẽ không có khả năng đến định cư tại đây.

Tất cả những điều trên làm giảm tốc độ tăng trưởng của Thung lũng Silicon, nhưng chúng sẽ không ngăn cản được nó. Chỉ có thách thức nghiêm trọng nhất mà tôi nhìn thấy đối với Thung lũng Silicon, mỉa mai thay, đó lại chính là từ phía chính phủ mà trước đây đã tạo nên sự phát triển thần kỳ của nó. Thung lũng Silicon thì đang thiếu hụt tài năng. Việc giới hạn các visa việc làm sẽ ngăn cản những người nước ngoài đến lấp đầy các vị trí đang thiếu hụt đó. Theo số liệu thống kê mới nhất đã chỉ ra rằng có nhiều hơn một triệu công nhân người nước ngoài đang làm việc theo giấy phép tạm thời, và hiện nay đang đợi để trở thành công dân chính thức. Sự thiếu hụt visa đồng nghĩa với việc một số người sẽ phải ra đi, và những người khác cũng sẽ trở nên chán nản và có thể phải quay về quê nhà.

Quá trình chảy máu chất xám này đang diễn ra tại các công ty ở Thung lũng Silicon. Và sau này chắc chắn chúng ta sẽ gặp phải những đối thủ cạnh tranh thực sự từ các khu vực mới nổi như New Delhi và Thượng Hải. Nhưng đó không phải là bởi vì họ đã khám phá ra một công thức làm cho các cụm sáng tạo có thể làm việc hiệu quả. Mà là bởi vì chúng ta đã xuất khẩu những thành phần kỳ diệu nhất: đó là những con người thông minh.

Các bài viết liên quan:

Advertisements

4 comments on “Tại sao việc nhân bản Thung lũng Silicon là không thể

  1. Câu 1: Không biết (chưa google) 😀

    Câu 2: Dễ quá. Nhóm 8 người này đang làm việc cho Shockley Labs thì được Sherman Fairchild đầu tư nên quyết định bỏ việc để thành lập công ty Fairchild Semiconductor vào năm 1957. Có thể nói Sherman Fairchild chính là mentor nổi bật nhất thời đó, ông chủ của 70 công ty, cha đẻ của Silicon Valley, xứng đáng được xếp vào danh sách The men who built America thế kỷ XX (như Vanderbilt, Rockerfeller, Andrew Carnegie trước đó 1 thế kỷ).

    • Alan, cảm ơn bạn đã dành thời gian trả lời nhé! 🙂

      Câu số 2 bạn trả lời khá chi tiết, nhưng cái tên “bộ 8 phản bội” đó có từ lúc họ bỏ ông Shockley sang làm cho ông Fairchild, hay là từ lúc họ bỏ ông Fairchaild ra mở công ty riêng (Intel…) ?

      Câu số 1 có bác nào trả lời cho vui 🙂

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s